Giai đoạn 2021-2023, Tiền Giang triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; đổi mới hình thức tổ chức sản xuất, nâng cao năng lực các hợp tác xã; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ theo chuỗi giá trị, từng bước kết nối với chuỗi cung ứng trong nông sản. Tăng cường năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và xây dựng nông thôn mới. Năm 2023, dự kiến ngành nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp 35,8% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tăng trưởng kinh tế nông nghiệp bình quân giai đoạn 2021-2023 đạt 2,5%/năm.

Giai đoạn 2021-2022, chỉ số sản xuất công nghiệp tỉnh Tiền Giang chỉ tăng bình quân 4,2%/năm, do năm 2021 dịch Covid-19 bùng phát làm ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Năm 2023, các doanh nghiệp tiếp tục gặp khó khăn song sản xuất công nghiệp vẫn tăng. Chỉ số sản xuất công nghiệp dự kiến năm 2023 tăng 5,5% so với cùng kỳ, bình quân giai đoạn 2021-2023 tăng 1,3%. Bức tranh hạ tầng đô thị Tiền Giang cơ bản được hoàn thiện, đầu tư xây dựng đồng bộ đô thị trung tâm của 3 vùng kinh tế trong Tỉnh phù hợp với đặc thù, quy mô phát triển của từng vùng. Tỉnh từng bước nâng cao chất lượng đô thị theo hướng hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị; tỷ lệ đô thị hóa đến nay đạt 31,25%. Công tác xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông được tập trung thực hiện, ưu tiên bố trí vốn đầu tư công cho hạ tầng giao thông, phối hợp với các cơ quan Trung ương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn Tỉnh; đồng thời, tiếp tục phối hợp nghiên cứu đầu tư dự án liên kết vùng. Nhiều dự án trọng điểm đã khởi công xây dựng, đặc biệt là dự án đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận giai đoạn 1, Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang đã chính thức đi vào hoạt động…

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2021- 2023 ước tăng bình quân 7,8%/năm. Năm 2023, ước thực hiện 82.000 tỷ đồng, tăng 12,2% so với năm 2022. Kim ngạch xuất khẩu năm 2023 ước thực hiện đạt 4,17 tỷ USD; bình quân giai đoạn 2021-2023, kim ngạch xuất khẩu tăng 11,0%/năm. Kim ngạch nhập khẩu năm 2023 ước đạt 2,05 tỷ USD; bình quân giai đoạn 2021- 2023 ước tăng bình quân 8,6%/năm, chủ yếu nhập khẩu nguyên nhiên liệu phục vụ các ngành công nghiệp xuất khẩu.

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn Tỉnh giai đoạn 2021-2023 ước đạt 30,2 nghìn tỷ đồng, bằng 39,26% kế hoạch; tổng chi ngân sách nhà nước giai đoạn này ước đạt gần 53,1 nghìn tỷ đồng, bằng 64,2% kế hoạch. Kế hoạch đầu tư công trung hạn của Tiền Giang trong giai đoạn 2021-2025 ước thực hiện 20,49 nghìn tỷ đồng, chiếm 23,8% tổng chi ngân sách và chiếm 8,3% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2021- 2025. Trong 3 năm 2021-2023, Tỉnh đã phân bổ tổng số vốn 13,71 nghìn tỷ đồng, đạt 56,6% kế hoạch trung hạn; giá trị giải ngân đạt tỷ lệ 99,9% số vốn đã phân bổ; gồm: Vốn ngân sách Trung ương 4,23 nghìn tỷ đồng, đạt 56,1% kế hoạch, tổng giá trị giải ngân 4.234,5 tỷ đồng, đạt 99,9%; Vốn ngân sách địa phương 9.481,9 tỷ đồng, đạt 56,9% kế hoạch, giá trị giải ngân 9.475,6 tỷ đồng, đạt 99,9% số vốn đã phân bổ.

Tỉnh Tiền Giang cũng trở thành tấm gương sáng trong xây dựng nông thôn mới của cả nước. Trong 2 năm (2021-2022), Tiền Giang có 19 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, 23 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 2 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu và huyện Gò Công Tây, huyện Cai Lậy đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Đến nay, toàn Tỉnh có 137/142 xã nông thôn mới, đạt 96,48%. Dự kiến cuối năm 2023, có thêm 5 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số lên 142/142 xã, đạt 100%; 11 xã nông thôn mới nâng cao, nâng tổng số lên 50 xã, đạt 35,2%; 2 xã nông thôn mới kiểu mẫu, nâng tổng số lên 4 xã, đạt 2,9% và có 2 huyện đạt chuẩn huyện nông thôn mới, nâng số đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới lên 9/11 đơn vị. Dự kiến đến năm 2025, hoàn thành xây dựng tỉnh Tiền Giang đạt chuẩn nông thôn mới.

Bên cạnh đó, Tiền Giang tiếp tục triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ; xây dựng các mô hình sản xuất nông sản an toàn, công nghệ cao, nông nghiệp đô thị, mô hình liên kết giữa nhà sản xuất – nhà khoa học – nhà chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đẩy mạnh hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy hình thành doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Giai đoạn 2021-2023, Tỉnh đã triển khai 38 nhiệm vụ (21 cấp tỉnh, 17 cấp cơ sở); cấp kinh phí cho 77 nhiệm vụ khoa học và công nghệ với số tiền là 32,9 tỷ đồng; hướng dẫn lập hồ sơ đăng ký 43 nhãn hiệu; gia hạn giấy chứng nhận đăng ký 11 nhãn hiệu.

Trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, Tỉnh thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục, tiếp tục đổi mới công tác quản lý giáo dục, xây dựng và củng cố đội ngũ nhà giáo, giữ vững kỷ cương, nề nếp trong các hoạt động giáo dục. Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe ngày càng được nâng cao, thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia, chất lượng dịch vụ y tế đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng của Nhân dân; kiểm soát tốt dịch Covid-19, không để các dịch bệnh nguy hiểm bùng phát. Phong trào“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và phong trào xây dựng nông thôn mới ngày càng thiết thực, hiệu quả, lan tỏa trong xã hội; phong trào thể dục – thể thao quần chúng có bước phát triển mạnh, đa dạng, phong phú, thu hút nhiều thành phần tham gia.

Cùng với đó, việc thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo an sinh, lao động – việc làm và chương trình giảm nghèo được Tỉnh chú trọng thực hiện, mang lại hiệu quả thiết thực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1,87% năm 2020 xuống 1,47% năm 2021 và 1,27% năm 2022; ước năm 2023 giảm còn 1,07%. Dự kiến đến năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 0,86%, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra (tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1% vào năm 2025). Tỉnh đã hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh từ 51% năm 2020 lên 52,5% năm 2022, dự kiến năm 2023 đạt 54%; đã giải quyết việc làm cho gần 32 nghìn người.

Nhìn chung, trong nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020- 2025, mặc dù chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, của Nhân dân và tình hình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, song Tiền Giang đã nỗ lực vượt qua khó khăn, kinh tế của Tỉnh từng bước phục hồi.

Giải pháp phát triển kinh tế – xã hội nửa cuối nhiệm kỳ

Trong nửa cuối nhiệm kỳ, Tiền Giang tập trung triển khai nhiều giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, phấn đấu hoàn thành mục tiêu đã đề ra:

Thực hiện nghiêm, quyết liệt, khẩn trương, đồng bộ, kịp thời, có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh giai đoạn 2020-2025, nhất là các mục tiêu, nhiệm vụ còn thấp; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát, cập nhật những chủ trương, nhiệm vụ mới để kịp thời điều chỉnh bổ sung giải pháp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn; đề cao tinh thần chủ động, sáng tạo gắn với trách nhiệm của tập thể, của cá nhân, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

Triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong định hướng phát triển. Trên cơ sở đó, triển khai thực hiện các quy hoạch ngành theo quy định pháp luật, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và đầu tư công trung hạn nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của Tỉnh; nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, gia tăng năng lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Tăng cường thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, quan tâm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi hơn về đất đai, về vùng nguyên liệu để đầu tư phát triển lĩnh vực chế biến nông sản, đặc biệt là trái cây (loại nông sản chủ lực của tỉnh), góp phần tăng thu nhập cho nông dân. Đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, chú trọng chỉnh trang các đô thị trung tâm 3 vùng của tỉnh (thành phố Mỹ Tho, thị xã Cai Lậy, thị xã Gò Công) phấn đấu đến năm 2025, tỷ lệ đô thị hóa tính theo khu vực toàn đô thị đạt tối thiểu 40%; đa dạng các ngành, lĩnh vực dịch vụ có nhiều tiềm năng, lợi thế nhằm tạo ra nhiều giá trị gia tăng.

Tiếp tục triển khai thực hiện theo lộ trình các đề án tái cơ cấu, phát triển nông nghiệp, công nghiệp; phát triển đô thị, thương mại, du lịch gắn với phát triển 3 vùng kinh tế – đô thị của Tỉnh; liên kết tiểu vùng, phát triển nội vùng, liên vùng trong và ngoài tỉnh, nhất là các công trình liên kết với vùng Đông Nam Bộ, tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tiểu vùng duyên hải phía Đông. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các xã, huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch đề ra. Quản lý chặt chẽ công tác thu, chi ngân sách; có giải pháp khai thác tốt các nguồn thu theo luật định, chú ý cân đối các nguồn thu hợp lý và tạo nguồn thu mới; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công; thực hành tiết kiệm trong chi ngân sách.

Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có thu nhập thấp. Tiếp tục đổi mới chương trình, giáo trình và phương thức đào tạo; gắn kết chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động; phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống y tế, y tế dự phòng, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư xây mới, cải tạo, nâng cấp cơ sở khám, chữa bệnh để sớm đưa vào khai thác, sử dụng, phục vụ Nhân dân.

Tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tăng cường công tác quốc phòng, an ninh; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế. Chủ động nắm chắc tình hình, kịp thời xây dựng phương án, kế hoạch tấn công, trấn áp tội phạm, vô hiệu hóa các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động; bố trí lực lượng xử lý kịp thời mọi tình huống, không để bị động, bất ngờ, tạo thành“điểm nóng” về an ninh, trật tự; bảo đảm lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó hậu quả thiên tai, dịch bệnh; thực hiện đồng bộ các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng ngừa tai nạn giao thông.

Tiếp tục tăng cường công tác dự báo, nắm tình hình, triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội, có cơ chế thu hút đầu tư, huy động nguồn lực xã hội trong và ngoài nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân các cấp trên tất cả các lĩnh vực. Đẩy mạnh triển khai thực hiện các giải pháp cải cách hành chính, nâng cao chỉ số cải cách hành chính giai đoạn 2021-2025; Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2021-2030; nâng cao chỉ số PAR Index, PAPI, PCI của tỉnh; xây dựng nền hành chính hiện đại gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện chính quyền số, các cổng thông tin điện tử, dịch vụ công trực tuyến. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức./.
 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

okvip

okvip

hi88

miso88

okvip

okvip

hi88

miso88