Nghiêm cấm việc cố ý cung cấp thông tin, tư liệu sai lệch

Theo dự thảo, Quy định này áp dụng đối với các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác có liên quan.

Mục đích việc cung cấp, tiếp nhận thông tin, tư liệu trong ngành Kiểm sát nhân dân nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu, phục vụ hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp: xây dựng, triển khai định hướng lớn; công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành; triển khai, sơ kết, tổng kết thi hành pháp luật; xây dựng Biên niên sử, chuyển đổi số và những việc khác theo chỉ đạo của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Việc cung cấp, tiếp nhận thông tin, tư liệu trong ngành Kiểm sát nhân dân phải đảm bảo nguyên tắc được thực hiện đồng bộ, thống nhất theo nguyên tắc tập trung, thống nhất của ngành Kiểm sát nhân dân; việc cung cấp thông tin, tư liệu được thực hiện khi cần thiết, đúng mục đích, yêu cầu và đúng quy định của ngành Kiểm sát nhân dân. Nghiêm cấm việc cố ý cung cấp thông tin, tư liệu sai lệch, không đầy đủ, trì hoãn việc cung cấp, tiếp nhận thông tin, tư liệu; hủy hoại, làm giả thông tin, tư liệu; sử dụng thông tin, tư liệu trái quy định của pháp luật, của ngành Kiểm sát nhân dân.

Các loại thông tin, tư liệu phải cung cấp, tiếp nhận

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì việc tham mưu hoặc ban hành thông tin, tư liệu có trách nhiệm cung cấp:

1. Chỉ thị, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn công tác và các chương trình, kế hoạch của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

2. Văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, giải đáp khó khăn, vướng mắc, trả lời thỉnh thị, thông báo rút kinh nghiệm về nghiệp vụ; văn bản kiến nghị tổng hợp đề nghị các cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm.

3. Văn bản phản ánh vụ án hình sự có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, điển hình, có tác động và làm ảnh hưởng lớn tới tình hình chính trị, kinh tế, xã hội nói chung, một hoặc nhiều địa phương, lĩnh vực nói riêng và được dư luận xã hội quan tâm; vụ án dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài, liên quan đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, có ảnh hưởng lớn đến nhiều địa phương; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có ảnh hưởng lớn đến nhiều địa phương (hằng năm, có thể lựa chọn cung cấp từ 02 đến 03 vụ án, vụ việc). Văn bản phản ánh phải có đầy đủ các nội dung: tóm tắt nội dung, kết quả giải quyết vụ án, vụ việc và vai trò của các đơn vị, Viện kiểm sát các cấp trong giải quyết vụ án, vụ việc.

4. Báo cáo công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại kỳ họp Quốc hội và các báo cáo: chuyên đề nghiệp vụ, công tác năm, khảo sát, sơ kết, tổng kết thi hành pháp luật, kiểm tra nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5. Văn bản trả lời chất vấn của Đoàn Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội, văn bản trả lời kiến nghị của cử tri của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

6. Tài liệu hội thảo, hội nghị tập huấn nghiệp vụ và thông báo kết luận của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao.

7. Nghị quyết, quy định của Ban Cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về tổ chức bộ máy, biên chế và công tác cán bộ (nếu được cho phép); các quyết định bổ nhiệm Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Lãnh đạo Viện kiểm sát quân sự Trung ương; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

8. Báo cáo thành tích tập thể, cá nhân của các đơn vị, Viện kiểm sát các cấp đã được tặng các loại Huân chương của Nhà nước.

9. Các thông tin, tư liệu khác theo yêu cầu của Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Trách nhiệm tiếp nhận thông tin, tư liệu

Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là đơn vị thực hiện việc tiếp nhận thông tin, tư liệu quy định tại Điều 4 Quy định này và cung cấp thông tin, tư liệu theo quy định tại các điều 7, 8 và 9 Quy định này.

Tự thu thập thông tin, tư liệu quy định tại Điều 4 Quy định này nếu thông tin, tư liệu này đã được công khai trên công thông tin của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đã được gửi theo Quy chế thông tin báo cáo của ngành Kiểm sát nhân dân.

Quản lý, lưu trữ thông tin, tư liệu quy định tại Điều 4 Quy định này theo từng năm công tác; sắp xếp theo từng loại file, trường thông tin, tư liệu và thứ tự thời gian.

Theo dự thảo, hình thức cung cấp thông tin, tư liệu do các đơn vị, Viện kiểm sát các cấp ban hành hoặc chủ trì tham mưu ban hành phải cung cấp bằng hình thức văn bản điện tử theo định dạng (PDF) hoặc văn bản ký số theo quy định của pháp luật, của ngành Kiểm sát nhân dân.

Đối với thông tin, tư liệu xác định độ mật bí mật nhà nước, thì việc cung cấp thực hiện bằng hình thức văn bản giấy theo quy định của pháp luật và của ngành Kiểm sát nhân dân về bảo vệ bí mật nhà nước.

Toàn văn dự thảo Quy định về trách nhiệm cung cấp, tiếp nhận thông tin, tư liệu trong ngành Kiểm sát nhân dân xem tại đây.

Ý kiến góp ý đề nghị gửi về Viện kiểm sát nhân dân tối cao trước ngày 14/10/2023.

Địa chỉ nhận: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học (Vụ 14) Viện kiểm sát nhân dân tối cao; số 09, đường Phạm Văn Bạch, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và gửi kèm theo file mềm về địa chỉ: [email protected].

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

okvip

hi88

miso88

okvip

hi88

miso88